0976810969

Cây quế chi và triển vọng làm giàu của người dân miền núi

Việt Nam là một trong những nước trồng nhiều cây quế với sản lượng xuất khẩu hàng năm lên tới hàng trăm tấn quế vỏ và hàng chục tấn tinh dầu quế. Từ thời phong kiến, quế đã được xem là một trong những hương liệu, dược liệu tốt được dành để tiến cống lên vua. Trong cơ cấu cây trồng lâm nghiệp hiện nay, cây quế chi cũng được xem là loại thế mạnh. Chúng hứa hẹn triển vọng làm giàu của người dân miền núi nói riêng và cả nước nói chung.

Các loại quế ở Việt Nam

cay-que-chi-2

Cây quế chi có tên khoa học là Cinnamomum cassia.BL, thuộc họ long não (Lauraceae). Ở Việt Nam, quế phân bố ở các vùng đồi núi trải dài từ bắc vào nam. Cây quế còn có tên địa phương là quế yên bái, quế quỳ, quế thanh, quế quảng, quế bì, mạy quế. Đây là loài cây sống lâu năm, thân gỗ, cây trưởng thành có thể cao trên 15m, đường kính ngang ngực (tầm 1,3m) có thể đạt đến 40cm. Thân cây tròn đều, vỏ ngoài màu xám, hơi nứt rạn theo chiều dọc. Lá quế là lá đơn mọc cách hay gần đối lá với 3 gân gốc kéo dài đến tận đầu lá và nổi rõ ở mặt dưới.

Quế có bộ rễ phát triển mạnh, rễ chính cắm sâu vào lòng đất, rễ phụ lan rộng, đan chéo nhau. Do đó, quế có khả năng sinh trưởng và phát triển tốt trên các vùng đồi núi dốc. Cây quế chi lúc nhỏ là cây ưa bóng, cần có bóng cho thích hợp để sinh trưởng và phát triển tốt. Càng lớn mức độ chịu bóng của cây càng giảm dần. Đến khi được khoảng 3 – 4 năm tuổi thì hoàn toàn ưa sáng. Đến khoảng 8 đến 10 tuổi thì cây quế bắt đầu ra hoa, hoa quế màu trắng hay phớt vàng, nhỏ chỉ bằng nửa hạt gạo, mọc ở nách lá đầu cành thành từng chùm. Cây quế chi ra hoa vào tháng 4,5 và quả chín vào tháng 1 đến tháng 2 năm sau. Quả quế thuộc dạng quả mọng, lúc non có màu xanh, khi chín chuyển sang màu tím than. Trong quả chỉ chứa một hạt hình bầu dục.

Các bộ phận của cây quế chi như vỏ, lá, hoa, rễ, gỗ đều có chứa tinh dầu rất tốt cho sức khỏe. Đặc biệt, trong vỏ của cây quế có hàm lượng tinh dầu rất cao, có khi đạt đến 4 – 5%. Tinh dầu quế có màu vàng, mùi thơm, vị cay ngọt rất được ưa chuộng. Các nghiên cứu đã cho thấy thành phần chủ yếu, quyết đinh dược tính của tinh dầu quế là Aldehyt Cinamic, chiếm khoảng 70 – 90%.

cay-que-chi-3

Hiện còn nhiều ý kiến trái triều về việc xác định các loài quế ở nước ta. Tuy nhiên theo cuốn sách “Cây cỏ thường thấy ở Việt Nam” tập II của nhóm tác giả Vũ Văn Chuyên, Võ Văn Chi, Phạm Nguyên Hồng, Đỗ Tất Lợi, Lê Khả Kế, Thái Văn Trừng thì ở Việt Nam có các loài quế chính là:

+ Cây quế Trung Quốc hay còn gọi là quế đơn, quế bì, có tên khoa học là Cinnamomum cassia B.L. Loại cây này chiếm phần lớn diện tích rừng quế ở nước ta. Chúng phân bổ đều khắp ở cả nước, đặc biệt là ở vùng quế Yên Bái.

+ Cây quế Thanh có tên khoa học là Cinnamomum obtusifolium. Nees.var Loureirii-Perrot et Ebernh. Loại quế này phân bố chủ yếu dọc theo sườn Đông dãy Trường sơn, đặc biệt là phía Bắc Trung bộ từ tỉnh Thanh Hoá đến tỉnh Quảng Ngãi.

+ Cây quế Sài Gòn có tên khoa học là Cinnamomum tamala Nees et Eberm. Không phổ biến như 2 loại quế trên nhưng chúng cũng phân bố khá nhiều ở Bắc bộ và Trung bộ.

+ Cây quế quan có tên hoa học là Cinnamomum zeylanicum Blume. Loại quế này chỉ phân bố ở vùng cực Nam trung bộ.

Ngoài ra, theo thực tế quan sát cây quế ở các vùng trồng quế, chúng ta có thể phân loại đơn giản thành 2 loài chính: quế lá to và quế lá nhỏ. Cây quế rừng lá to mọc phổ biến hơp với tán cây rậm, lá to, lớn nhanh nhưng vỏ mỏng và hàm lượng tinh dầu thấp. Trong khi đó, cây quế lá nhỏ tán thưa, lá nhỏ, số lượng chỉ chiếm khoảng 5 – 10% tổng diện tích quế. Loại quế này chậm lớn nhưng vỏ dày và hàm lượng tinh dầu trong vỏ cao hơn loại quế lá to.

Triển vọng phát triển của cây quế chi

cay-que-chi-4

Cây quế chi đã mọc tự nhiên ở nước ta từ khá lâu. Do có nhiều công dụng cho sức khỏe và đời sống nên nó cũng đã được nhân giống và trồng thành các vùng quế tập trung. Tuy nhiên, chỉ đến mấy năm trở lại đây cây quế chi mới thực sự phát triển vì thời gian trồng đến khi khai thác lâu hơn cây mỡ, cây keo. Khoảng 5 – 6 năm trước, giá vỏ quế xuống thấp chỉ còn 2.000 đồng/ kg, nhiều nơi khai thác rồi còn không có thương lai đến mua nên người dân dần lãng quên cây quế. Chỉ đến khi giá quế tăng dần từ 5.000 – 7.000 đồng/ kg lên 10.000 – 12.000 và nay đạt mức 15.000 – 25.000 đồng/ kg vỏ tươi (tùy từng vùng) thì người trồng rừng mới quay lại và tập trung phát triển cây quế.

Cây quế được đặt nhiều kỳ vọng không chỉ bởi giá cả khá cao so với mặt bằng chung của cây lâm nghiệp mà còn vì nó vừa cho thu hoạch lâu dài vừa cho thu hoạch hàng năm. Mỗi năm có hai đợt thu hoạch quế chính là từ tháng 2 – 3 và từ tháng 7 – 8 (âm lịch). Trong khoảng thời gian này, vỏ quế sẽ có nhiều tinh dầu và dễ lột xuống hơn. So với nhóm cây nguyên liệu, cây quế có tuổi đời khá dài. Nó cho thu hoạch từ khi được 5 tuổi nhưng chỉ cho giá trị cao, ổn định khi cây trên 15 tuổi. Hiện nay ở nước ta có 4 vùng trồng quế lớn, với diện tích và chất lượng quế ổn định là vùng quế Yên Bái, vùng quế Quảng Ninh, vùng quế Thanh Hóa – Nghệ An và vùng quế Quảng Nam – Quảng Ngãi.

Trên thị trường hiện nay, vỏ cây quế được ưa chuộng và sử dụng rộng rãi trong việc phòng và hỗ trợ điều trị bệnh. Nó đã được ứng dụng trong các bài thuốc đông y và các chế phẩm của thuốc tây y. Với mùi thơm đặc biệt, vỏ cây quế chi cũng được sử dụng làm gia vị cho các món ăn. Từ vỏ quế, người nghệ nhân còn có thể tạo ra rất nhiều sản phẩm phong phú khác như quế ống, bột quế, đồ thủ công mỹ nghệ… Bên cạnh vỏ quế, tinh dầu quế cũng là sản phẩm chủ lực được nhiều người tin dùng. Tất cả các bộ phận của cây quế như lá, cành, thân đều được tận dụng để chưng cất tinh dầu. Tinh dầu thành phẩm có màu vàng, mùi thơm đặc trưng và dược tính nồng đậm. Do đó, nó được xem là một trong những hương liệu quý, tạo nên các loại nước hoa nổi tiếng trên thị trường.

  1. Vùng quế Yên Bái

cay-que-chi-5

Giá quế tăng cao, ổn định hơn đã khiến diện tích trồng cây quế chi tăng liên tục trong một số năm gần đây. Hiện tại Yên Bái, giá vỏ quế khô dao động từ 100.000 – 130.000 đồng/ kg, giá gỗ là khoảng 3 triệu đồng/ khối gỗ. Với trên 23.000 ha quế, trong đó có 15.500 ha được trồng tập trung, huyện Văn Yên, Yên Bái đã trở thành vùng chuyên canh quế lớn nhất, nhì cả nước. Cây quế chi được nông dân Văn Yên trồng ở khắp mọi nơi. Từ trong rừng, trên đồi đến xung quanh nhà, trồng gối nhau liên tiếp nên rừng quế cho thu hoạch quanh năm. Những năm gần đây, quế đã trở thành cây trồng mũi nhọn của huyện Văn Yên. Nó được xem là cây xóa đói, giảm nghèo, làm giàu của không ít gia đình, doanh nghiệp. Các sản phẩm từ quế Văn Yên được phân phối đến nhiều tỉnh thành trên cả nước, xuất khẩu sang nhiều nước trên thể giới và dần trở thành thương hiệu uy tín.

Chính quyền địa phương cũng đã có định hướng quy hoạch, phát triển, hướng dẫn sơ chế và tiêu thụ quế để nâng cao giá trị cây trồng. Hàng năm, toàn huyện trồng mới được trên 2.000ha rừng thì có đến 90% là cây quế chi. Đến nay, cả 27 xã, thị trấn của huyện Văn Yên đều trồng quế với diện tích lên tới 23.000 ha. Quế cho chất lượng lớn với diện tích trồng tập trung là 8 xã hữu ngạn sông Hồng gồm: Đại Sơn, Viễn Sơn, Mỏ Vàng, Xuân Tầm, Châu Quế Hạ, Phong Dụ Thượng, Phong Dụ Hạ, Tân Hợp với diện tích trên 15.000 ha.

Việc thu hoạch vỏ, thân, gốc, lá, cành đã giúp nhiều gia đình nông dân của huyện Văn Yên thu về vài trăm triệu đồng mỗi năm. Lá quế tươi được các chủ cơ sở chế biến tinh dầu đến tận vườn thu mua với giá 1.200 đồng/ kg. Vỏ quế là khoảng hơn 25.000 đồng/ kg. Ngoài ra, phần thân gỗ cũng có thể sản xuất đồ thủ công mỹ nghệ và đem lại giá trị kinh tế cao. Ước tính một cây quế to bán cả vỏ, lá, cành, gỗ được từ 2 – 3 triệu đồng. 1 ha quế bán rẻ cũng được vài trăm triệu đồng. Do đó, cứ đến mùa thu hoạch vụ tháng 3 và vụ tháng 8, người người, nhà nhà đều lên đồi bóc quế, phơi quế. Mỗi năm, địa phương xuất ra thị trường khoảng từ 7.000 tấn vỏ quế khô các loại cùng nhiều sản phẩm khác từ cây quế, doanh thu đạt khoảng 60 tỷ đồng.

Tại huyện Lục Yên, nhận thức được hiệu quả kinh tế từ cây quế đem lại, nhiều hộ dân thuộc các xã nằm dọc quốc lộ 70 đã chuyển phần lớn diện tích sang trồng cây quế chi. Nếu năm 2014, toàn huyện chỉ có 72 ha cây quế thì đến nay 2015 đã lên gần 260ha, tăng trên 350%. Vùng nguyên liệu quế phát triển cũng tạo điều kiện cho các cơ sở sản xuất, chế biến tinh dầu quế ra đời. Qua đó, góp phần tạo công ăn việc làm cho hàng ngàn lao động tại địa phương.

  1. Vùng quế Quảng Nam – Quảng Ngãi

cay-que-chi-5

Vùng quế Quảng Nam có khoảng 5.000 ha trồng quế. Số cây quế chi này tập chung chủ yếu ở các huyện miền núi, đặc biệt là huyện Bắc Trà My. Quế Trà My đã có thương hiệu từ lâu đời và còn được ví như là “Cao sơn ngọc quế”. Giá thu mua quế những năm này cao hơn nên người trồng quế cũng có mức thu nhập ổn đinh. Cụ thể, vỏ quế khô được thu mua với giá 35.000 đồng/ kg, vỏ quế dầu với giá 58.000 đồng/ kg. Riêng phần cành, lá quế khô có giá thu mua ổn định ở mức 3.000 đồng/ kg. Huyện Bắc Trà My đã có nhà máy chế biến tinh dầu đặt tại chỗ và đang thu mua khoảng hơn 300 tấn nguyên liệu cành, nhánh, lá quế mỗi năm. Tuy nhiên, nhu cầu thu mua của nhà máy vẫn còn rất lớn bởi công suất chiết tinh dầu của nhà máy lên tới 15 tấn lá quế mỗi ngày.

Tại Quảng Ngãi, quế Trà Bồng là một trong những đặc sản được xác lập kỷ lục Châu Á. Những năm gần đây, giá vỏ cây quế chi cũng tăng cao, ổn đinh. Cụ thể, 1kg vỏ quế tươi giá khoảng 20.000 đồng, thấp nhất cũng từ 13.000 đồng – 15.000 đồng. Trong khi đó, giá 1kg quế khô dao động từ 32.000 đồng – 35.000 đồng/kg. Lá quế tươi được các cơ sở ép tinh dầu quế đến tận vườn thu mua với giá 1.200 đồng/ kg và 2.500 đồng/ kg cho lá khô. Năm 2015, người trồng quế ở Quảng Ngãi còn đón nhận niềm vui mới khi một nhà máy chế biến tinh dầu từ cành, lá quế quy mô lớn được đầu tư xây dựng ngay trên đất quế Trà Bồng.

Ở 2 huyện Trà Bồng và Tây Trà cây quế khâu hiện diện ở khắp nơi. Hầu như nhà bà con đồng bào Cor nào cũng trồng quế. Nhà nhiều trồng hàng chục nghìn cây, nhà ít cũng trồng vài trăm cây. Ước tính, 2 huyện này có tổng diện tích lên tới hơn 7.000 ha quế. Trong đó có khoảng 30% diện tích quế đã trồng được 7 – 10 năm và đang cho khai thác với sản lượng hàng năm ước đạt trên 1.000 tấn quế khô.

Với những ưu thế vượt trội cho sức khỏe, sắc đẹp và cuộc sống, cây quế chi tiếp tục được khẳng định là cây trồng chủ lực để phát triển kinh tế ở nhiều địa phương. Tuy nhiên, để người dân xóa đói giảm nghèo, giàu bền vừng từ cây quế, các địa phương vẫn cần tập trung phát triển công nghiệp chế biến sâu, đa dạng các sản phẩm từ quế. Đẩy mạnh việc tiêu thụ, quảng bá đưa sản phẩm quế ra thị trường trong nước và quốc tế. Góp phần nâng cao thu nhập người cho trồng quế, giúp người dân yên tâm đầu tư, phát triển cây đặc sản này.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *